Pietro Citati: Robinson Crusoe (trích “Cái ác tột cùng”)

Robinson Crusoe

trích từ Cái ác Tột cùng (2004) [El mal absoluto] – nhà phê bình người Italia – Pietro Citati. Cũng giống như “Văn học và cái ác”, nhưng Pietro Citati, một trong những nhà phê bình lớn nhất hiện tại, tập trung vào văn chương thế kỷ 18-19 với các nhân vật như Daniel Defoe, Flaubert, Kafka, Dostoevsky, Charles Dickens. 

Bạch Dương dịch từ bản tiếng Tây Ban Nha

 

Cuộc đời cùng những chuyến phiêu lưu kỳ lạ và đáng kinh ngạc của Robinson Crusoe xứ York, một chàng thủy thủ theo tiếng gọi đam mê. Chẳng  là một thứ tình cảm, hay một cơn giận, một ý thích bất chợt, hay một thất thường đơn thuần tính khí, như đôi khi Robinson vẫn tưởng, mà là một mãnh lực kinh người, với một căn nguyên bí ẩn và chẳng mấy chốc đã hóa thành một định mệnh mà không phương thuốc, không trở ngại hay sức kháng cự nào có thể chống lại. Phải làm gì để chống lại niềm đam mê của Robinson? Đó là một nỗi bất mãn sâu sắc với hoàn cảnh mà Thượng đế và tự nhiên đã đặt gã vào: một bản năng tự hủy, một khát khao trốn chạy chiếm hữu lấy gã từ thuở thanh xuân, xui gã dấn thân vào những cuộc phiêu lưu hải hồ, bất chấp những vụ đắm tàu, những nỗi bất hạnh và tai ương, luôn một lần nữa tóm lấy gã. Gã sống vài năm ở Brazil, nơi vận may phù hộ cho cuộc đời người trồng trọt của gã; và rồi ta lại thấy gã lên đường, đắm tàu trên một hòn đảo hoang, sống ở đó suốt hai mươi tám năm và, sau một quãng nghỉ ngắn ở Anh, lại tiếp tục hải trình qua các đại dương.

Ta không biết phải định nghĩa đam mê này như thế nào. Ngay cả tác giả Daniel Defoe cũng không biết. Một mặt, ông nói về “tội tổ tông”; trong trường hợp đó, ta sẽ phải nghĩ rằng một quyền lực ma quỷ đang rượt đuổi Robinson và thúc đẩy gã để mình bị Cái Ác cám dỗ, như một trong những tội nhân vĩ đại của Kinh Thánh. Nhưng mặt khác, trước những tia sáng bất ngờ nào đó, ta lại có ấn tượng ngược lại. Khát khao trốn chạy là do Thượng đế muốn: “tội tổ tông” không phải là tác phẩm của Satan mà là của Đấng Sáng tạo, Đấng hé lộ cho ta thấy gương mặt bí ẩn và đen tối của mình, ẩn giấu nơi sâu thẳm nhất trong trái tim ta. Dù cho nhiều người sống một cuộc đời lương thiện và có giới hạn không biết đến vị Thượng đế bí ẩn này, Robinson lại biết sự lưỡng nghĩa vô hạn của Ngài. Defoe không tiếp tục cuộc khám phá thần học của riêng mình. Ông chỉ giới hạn ở việc ghi nhận sự lan rộng của “tinh thần trốn chạy” trong thời đại của mình: biết bao người đàn ông đi khắp thế gian cố gắng giải tỏa một nỗi bồn chồn bùng nổ như một trận dịch vào cuối thế kỷ XVII. Như đã được nhắc lại nhiều lần, Robinson là hiện thân cho tinh thần của những nhà tư bản hiện đại đầu tiên và ưa mạo hiểm.

Nhưng Thượng đế lại chiếu một hình ảnh khác của chính mình lên mặt đất. Xưa kia, Ngài đã chọn làm biểu tượng cho mình nhà văn viết sách thánh, thầy tu, chiến binh, nhà vua, tu sĩ. Giờ đây, Ngài chọn người tư sản: cái tầng lớp trung lưu ấy, xa rời sự xa hoa của những kẻ quyền thế và sự khốn cùng của những người thợ thủ công và nông dân, sống cần cù ở nông thôn và trong các thành phố mới của thời hiện đại. Điều Thượng đế yêu mến ở tầng lớp này chính là cái đối lập với những gì Ngài đã yêu và ghét ở những nhà tư bản đầu tiên: sự chừng mực, sự điều độ, sự thanh thản của tình cảm; sự chối bỏ mọi lo âu, ghen tị, tham vọng và khát khao quyền lực. Người tư sản sống trên đời để khẳng định trật tự và sự hài hòa của Thiên khải: trong cuộc đời của anh ta, mọi thứ phải được lặp lại và giữ lòng trung thành với chính nó theo nhịp điệu chi phối các mùa. Nếu Thượng đế đã tiêm vào huyết quản của Robinson nọc độc của tinh thần trốn chạy, thì sau đó Ngài sẽ làm gã đắm tàu và giam cầm gã trên một hòn đảo vô danh, để cho gã thấy gương mặt quan phòng và tư sản của mình.

Bị bão tố vồ lấy, bị cuốn đi suốt mười hai ngày “đến nơi nào định mệnh và ngọn gió muốn”, con tàu của Robinson đắm vào ngày 30 tháng 9 năm 1659 ngoài khơi một hòn đảo vô danh. Giữa những con sóng bạc đầu, cao như núi, xô đẩy và quăng quật gã vào những mỏm đá, chỉ mình Robinson bơi được vào bờ. Gã ngồi xuống bãi cỏ ven bờ. Gã đưa mắt nhìn ra biển nơi “ba chiếc mũ, một cái nồi bơ-rê và ba chiếc giày cọc cạch” nhắc gã nhớ về những người bạn đồng hành đã chết; và gã đi đi lại lại trên bãi biển, ngước mắt lên trời, “toàn bộ con người gã chìm đắm trong những suy tư về sự cứu rỗi của chính mình”. Gã cảm tạ trời đã cứu gã, nhưng một mình, không vũ khí, không thức ăn, gã nhận ra sự cứu rỗi ấy khủng khiếp đến nhường nào. Gã vẫn chưa biết rằng, vào khoảnh khắc ấy, gã không còn là Robinson Crusoe, sinh ra ở York, Anh quốc, hai mươi bảy năm về trước. Gã là chàng Adam mới: Thượng đế đã chọn gã giữa hàng triệu người, đã đưa gã đến hòn đảo và đã cứu gã, để biến cuộc đời gã thành một tấm gương, một “bức khảm của Thiên khải”.

Không thể có một vụ đắm tàu nào may mắn hơn hay một chàng Adam nào được vị Thượng đế đen tối và trìu mến của mình yêu thương hơn thế. Con tàu đắm gần hòn đảo. Robinson đóng một chiếc bè và chất lên đó những gì còn sót lại của con tàu. Với một sự tự mãn trong liệt kê, với một thói mô phạm của kẻ kế toán và tay buôn, Defoe kể tên, từng thứ một, những đồ vật tìm thấy. Bánh mì, gạo, ba loại phô mai Hà Lan, năm tảng thịt dê khô, những chai rượu mạnh, quần áo, dụng cụ thợ mộc, hai khẩu súng săn, hai khẩu súng lục, một túi đạn, hai thanh gươm cũ, những hộp và thùng thuốc súng; và cả đinh, một cái búa lớn, một tá rìu, một viên đá mài, hai hoặc ba cái xà beng, thêm nhiều thùng thuốc súng, bảy khẩu súng hỏa mai, một cái võng, chăn, nệm; ngoài ra, bánh mì, ba thùng rượu rum, một gói đường, một thùng bột mì hảo hạng, một cuộn dây thừng, một sợi dây kéo, các thanh buồm, dao cạo, dao, nĩa; và thậm chí cả một cuốn Kinh Thánh, bút lông, mực, giấy và la bàn cùng các dụng cụ toán học và thiên văn và hải đồ và sách hàng hải.

Nhiều người đã cười khi đọc những trang này; nhiều người, trong đó có [Jules] Verne, đã bắt chước chúng. Trẻ em, về phần mình, đã tận hưởng chúng một cách không dè dặt, phấn khích trước cái thói mô phạm trẻ con và thừa thãi này. Hòn đảo cô độc dường như biến thành một trung tâm thương mại: một trong số rất nhiều nơi mà người Hà Lan và người Anh đã mở dọc theo các tuyến hàng hải. Thượng đế hiện ra trước mắt ta như một tay buôn và Robinson như một gã tư sản tằn tiện tích trữ hàng hóa trong hang động của mình. Nếu gã là Adam, Defoe không thể cho phép gã hoàn toàn trần trụi với Thượng đế của mình, và bắt đầu với gã một trong những cuộc đối thoại tuyệt vọng mà các nhà thần bí gán cho những linh hồn được ưu ái của họ, những linh hồn cũng cư ngụ trên một hòn đảo hoang. Nỗi cô độc tuyệt đối gây ra nỗi sợ hãi cho cả Defoe và Robinson và cũng vậy, có lẽ, cho cả vị Thượng đế bí ẩn kia; sự tồn tại của “tấm gương” của Ngài phải gần gũi nhất có thể với cuộc sống của một người tư sản làm việc và tích lũy trong một ngôi làng ở Anh hay ở Brazil: đầy ắp đồ vật và những tưởng tượng xoay quanh chúng.

Với những thứ dự trữ này, ít nhất trong một thời gian, Robinson có thể sống bằng lợi tức. Nhưng không gì xa vời hơn kế hoạch của Defoe và Thượng đế. Ngay khi đặt chân lên bãi biển, Robinson bắt đầu làm việc. Gã đặt vào đó một sự bền bỉ không mệt mỏi và một trí khôn thực dụng tuyệt vời, có khả năng giải quyết bất kỳ khó khăn hay vấn đề nào, giống như hàng ngàn năm trước Ulysses đã làm. Lao động là liệu pháp và cũng là tôn giáo của gã: nó chữa lành sự cô đơn, là liều thuốc cho tâm hồn, xua tan nỗi u uất, chiến thắng nỗi đau, đo đếm thời gian, xóa bỏ ký ức. Khi đến đảo, Robinson gần như không biết làm gì cả và gã học tất cả các nghề trong lịch sử loài người. Gã trở thành thợ mộc để đóng một cái ghế, một cái bàn và những cái kệ. Gã trở thành nông phu khi trồng lúa mạch, lúa mạch đen và một vườn nho. Gã chăn dắt và thuần hóa dê rừng, mèo cái và một con vẹt. Gã là thợ gốm và chiêm ngưỡng với niềm vui không kiềm chế được vẻ đẹp của những chiếc nồi của mình, có khả năng chịu được lửa. Và cũng là thợ làm ô, thợ may, đầu bếp, thợ làm bánh, thợ đóng thuyền.

Như Marx đã chỉ ra, cuộc sống tư sản, vào thời của Defoe đang thắng thế ở châu Âu và châu Mỹ, lại cử hành chiến thắng tối cao của chính nó ở đây, trên một hòn đảo hoang, nơi người ta không thể mua bán, giao thương hay xuất khẩu. Đối với Robinson, có một ngôi nhà là chưa đủ: gã xây cho mình một ngôi nhà thứ hai ở một nơi dễ chịu và đầy hoa, nơi gã trải qua những kỳ nghỉ như một người tư sản. Có trong tay những thứ cần thiết nhất là chưa đủ với gã. Gã dự trữ nho, thanh yên và chanh; gã cất giữ vụ thu hoạch đầu tiên để có thể gieo trồng lại lần nữa: theo thời gian, gã có được một vụ thu hoạch dồi dào – 720 kg lúa mạch và 720 kg lúa mạch đen – vượt quá nhu cầu của mình. Nếu hòn đảo không bị tách biệt khỏi phần còn lại của thế giới bởi “những rào cản và chướng ngại vật vĩnh cửu”, gã đã có thể buôn bán như những con tàu mà gã đã đi qua các đại dương thuở trước.

Trong mọi việc Robinson làm đều có một tinh thần chính xác đến tỉ mỉ, như thể Defoe đã chiếu lên gã hình ảnh đối lập với cuộc đời vô trật tự của chính mình. Robinson chi li đến mức ám ảnh: nếu gã loại bỏ tình cảm và những yếu tố ái tình khỏi câu chuyện đời mình, thì không chỉ vì sự kín đáo, mà còn vì ái tình và tình cảm làm rối loạn và xóa nhòa những đường nét của định mệnh. Điều gã mong muốn hơn hết là đo đếm: đo đếm thời gian và không gian; vì vậy không chuyến đi nào của gã ra con tàu lại quan trọng hơn chuyến mà gã mang vào bờ mực, bút lông, la bàn, các dụng cụ toán học, các bản đồ. Gã biết rằng trật tự và sự đo lường là nền tảng của nền văn minh phương Tây; gã đặt ra một lịch làm việc, chuẩn bị một thực đơn hàng ngày, tổ chức cuộc sống của mình, kế toán hóa đạo đức và những điều kỳ diệu. Gã chỉ phạm một sai lầm duy nhất (mà gã tỏ ra không thể nguôi ngoai) trong việc đo đếm thời gian: bị sốt rét kịch phát, gã ngủ liền hai đêm mà không nhận ra. Bằng cách này, gã không chỉ tuân theo tinh thần tư sản. Gã tuân theo trên hết tinh thần của Thượng đế, Đấng Đo lường Vĩ đại, Đấng Tư sản Vĩ đại, Đấng chia cuộc đời gã thành những giai đoạn đối xứng hoàn hảo, theo quy luật tối cao của số học.

Năm tháng trôi qua, hòn đảo trở nên một đời sống thị dân. Robinson không còn nhớ nhung London và châu Âu nữa vì cả châu Âu đều ở đó, với công việc, với những phép đo, với thời gian, với trật tự của nó. Trong hai mươi tám năm lưu đày, trong đó gã đã là người chăn nuôi, nông dân, thợ thủ công và thủy thủ, gã tái tạo lại tất cả các giai đoạn của nền văn minh châu Âu, kể từ khi những lưỡi gươm sáng chói của các thiên thần hộ giá đuổi Adam khỏi Vườn Địa đàng. Gã không hề có mong muốn thay đổi cuộc sống con người bằng cách phát minh ra một lịch sử khác: cả Defoe cũng không, và càng không phải là Thượng đế, Đấng chịu trách nhiệm cho lịch sử. Mọi điều con người đã làm đều tốt, như Thượng đế nói trong Sáng thế ký khi điểm lại sáu ngày sáng tạo. Cuộc đời cùng những chuyến phiêu lưu kỳ lạ và đáng kinh ngạc của Robinson Crusoe xứ York, một chàng thủy thủ được dành riêng cho một địa điểm không tưởng điển hình như hòn đảo. Tuy nhiên, chưa từng có ai viết một cuốn sách ít không tưởng hơn cuốn này, một cuốn sách với sự hùng biện mực thước đã ca ngợi những điều tốt đẹp tồn tại trên trái đất. Chỉ có cơn cuồng nộ bất thường của đam mê và trốn chạy ẩn náu trong trái tim tăm tối của Robinson mới nhắc nhở ta rằng còn có những nơi khác.

Trong những tháng đầu tiên của cuộc sống trên đảo, cũng như trong những năm tháng tuổi trẻ, Robinson đã quên mất Chúa. Bất thình lình gã đổ bệnh; những cơn sốt rét kịch phát khiến gã nằm liệt; gã mê sảng, rồi ngủ được và trong giấc mơ, một Thượng đế trừng phạt hiện ra với khuôn mặt rực rỡ như lửa và một giọng nói khủng khiếp. Ngài cố giết gã bằng một ngọn giáo và nói với gã: “Vì tất cả những sự việc này không đưa ngươi đến sự hối cải, ngươi sẽ phải chết”. Robinson tỉnh dậy kiệt sức: gã lơ đãng mở Kinh Thánh và những từ đầu tiên hiện ra trước mắt gã là: “Hãy kêu cầu danh ta trong ngày hoạn nạn, ta sẽ cứu ngươi, và ngươi sẽ tôn vinh ta”. Bị ấn tượng và xúc động bởi những lời này, gã quỳ xuống và cầu nguyện với vị Thượng đế vô danh. Gã chìm vào một giấc ngủ sâu, ngủ gần hai ngày và tỉnh dậy với tâm hồn nhẹ nhõm và vui vẻ. Câu chuyện của Phaolô và Augustinô được lặp lại. Trong giờ phút bệnh tật và hoang tàn, Thượng đế chiếm hữu tâm trí và thể xác của Robinson, và ngự trị bên trong gã.

Vị Thượng đế này không còn là hình ảnh tăm tối đã đẩy gã trốn chạy và phá vỡ mọi ràng buộc. Ngài là Đấng Sáng tạo, Đấng Sắp đặt vũ trụ: Thiên khải quyết định mọi sự. Ngài là Người Thợ Gốm tạo hình cho tất cả những chiếc bình mà không một chiếc nào có thể nói với Ngài: “Tại sao Ngài lại cho con hình dạng này?”. Ngài ở trên cao, trên trời mà Ngài đã tạo ra; và Ngài không mang những đường nét của Chúa Kitô, Đấng đã đến thế gian mang thân xác con người và tự hiến tế và hy sinh vì chúng ta. Robinson cảm nhận một sự tôn kính sâu sắc và mực thước đối với hình ảnh xa xôi và toàn tại này. Ta không thể khẳng định rằng gã yêu Ngài; thực vậy, gã không cảm thấy đối với Ngài những cơn say đắm, những thôi thúc, những tình cảm yêu đương ném nhà thần bí vào một cuộc phiêu lưu tuyệt vọng và bất khả. Robinson đọc Kinh Thánh, nhẩm lại trong đầu những công trình của Thượng đế, cầu nguyện với Ngài và nhận thấy sự hiện diện của Ngài trong công việc hàng ngày, trong sự đo lường thời gian, trong trật tự tỉ mỉ được áp đặt lên mọi giờ và mọi phút.

Thế là bắt đầu phần thứ hai của cuộc đời Robinson trên đảo. Gã không còn ham muốn gì nữa: thế giới, mà lúc đầu gã hằng khao khát, dường như là một thứ gì đó xa xôi và gã không đặt vào đó bất kỳ hy vọng nào. Trong khi săn bắn, cày cấy, trồng trọt, làm nồi niêu, gã vuốt ve những con dê và những con mèo, gã không làm gì khác ngoài việc tìm thấy Thiên khải của Thượng đế: chính gã là dấu hiệu, là biểu tượng, là “bức khảm” của Thiên khải. Thượng đế hiện diện khắp nơi trong “cuộc đời im lặng và cô độc” của gã. Và rồi gã chỉ có thể khao khát thêm sự im lặng, thêm sự cô độc. Gã sợ hãi những kẻ tấn công vô danh, sản phẩm của trí tưởng tượng của mình. Gã xây dựng cho mình một cuộc sống ẩn dật, tự giam mình trên hòn đảo vốn đã xa cách thế giới. Gã ngày càng co mình lại vào thân thể của hòn đảo như thể gã co mình lại (những từ ngữ mà gã sẽ cho là báng bổ) vào thân thể của Thượng đế; và sự ẩn dật gần như ám ảnh này được nhuốm những màu sắc mềm mại và tinh tế của sự phúc lạc.

Ngay khi đắm tàu, Robinson đã gọi vùng đất vô danh là “hòn đảo kinh hoàng”; sau đó, trong những năm tháng bị giam cầm, nó trở thành “hòn đảo của tôi”, một công thức mà gã lặp lại với giọng ngày càng trìu mến, như thể đang nói với một người chị hay một người con gái. Nhưng hãy tưởng tượng một người lãng mạn. Hãy tưởng tượng Chateaubriand đã đến nơi Robinson Crusoe đã đến: ông ta sẽ đi khắp các bờ biển, các ngọn đồi, các khu rừng và bụi rậm, đồng hóa mình với hòn đảo và, qua đó, với thiên nhiên hoang dã, say sưa trong cơn ngây ngất của chính mình. Không có điều gì như vậy xảy ra trong Robinson Crusoe. Bất chấp tình cảm, hòn đảo vẫn vô danh cho đến cuối cùng. Nó không bao giờ là hiện thân cho linh hồn của thiên nhiên, thứ mà Defoe không biết. Nó chỉ là một nơi mà Robinson sử dụng, canh tác, cày cấy, khám phá, bảo vệ, để hoàn thành nghĩa vụ mà Thượng đế đã giao cho gã. Một người lãng mạn sẽ không bao giờ muốn trở thành bá chủ của hòn đảo. Robinson không nghĩ đến điều gì khác: gã tưởng tượng mình là thống đốc và vị vua tuyệt đối, bởi vì gã là chàng Adam mới, người mà, vào buổi đầu của lịch sử, Sáng thế ký đã giao phó toàn quyền thống trị vũ trụ.

Gần giữa cuốn tiểu thuyết, trong khi đang đi ra bãi biển, Robinson hoàn toàn sững sờ khi phát hiện trên cát dấu một bàn chân trần.

Tôi đứng sững như trời trồng, như thể vừa thấy ma. Tôi vểnh tai nghe, nhìn quanh: không thấy không nghe gì cả. Tôi trèo lên một mô đất cao để nhìn xa hơn. Tôi đi dọc bãi biển lên xuống, nhưng tất cả đều vô ích; tôi không thể phát hiện thêm dấu chân người nào khác ngoài dấu chân đó.

Thật kinh hoàng. Giờ đây Robinson là một tù nhân của sự giam cầm của chính mình đến nỗi gã nhìn thấy trong dấu chân người một dấu hiệu khủng khiếp: sự xâm phạm và xúc phạm đến sự cô độc yên bình của gã. Vào khoảnh khắc đó, mối tình thiêng liêng với Thượng đế, trong đó gã đã sống rất nhiều năm, bị phá vỡ mãi mãi. Mọi thứ mà Robinson đã kìm nén đều trỗi dậy: những tưởng tượng, những lo âu, những khao khát, những ham muốn, sự khao khát được nghe một giọng nói của con người. Một lần nữa gã muốn trốn chạy: tâm trí bồn chồn, tính khí thiếu kiên nhẫn của gã lại chiếm hữu lấy gã và xóa đi sự cam chịu của gã vào Thiên khải. Cuộc gặp gỡ với Thứ Sáu làm gã nguôi ngoai trong một thời gian.

Sau hai mươi tám năm, sự từ bỏ cuối cùng đã đến: Robinson rời đảo. Ta có thể buộc tội gã là kẻ nhẫn tâm, bởi vì gã rời đảo mà không một lời than vãn, gã, người đã yêu biết bao những bờ biển, những hang động và những khu rừng ấy. Thực ra, cuốn sách bị hòn đảo bỏ rơi, cái chủ đề thơ ca vĩ đại đã thụ tinh không mệt mỏi cho trí tưởng tượng tuyệt vời và tỉ mỉ của Defoe. Cuộc đời cùng những chuyến phiêu lưu kỳ lạ và đáng kinh ngạc của Robinson Crusoe và phần tiếp theo tầm thường của nó, Những cuộc phiêu lưu sau này, lao dốc. Hòn đảo bị suy thoái bởi những thăng trầm tàn khốc của lịch sử. Sau một thời gian gián đoạn vài năm, Robinson bị “tội tổ tông” của mình tấn công: sự thôi thúc trốn chạy lại một lần nữa kéo gã đi khắp thế giới – châu Phi, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga – mà gã không thể hiểu được bóng tối bên trong mình là gì. Thiên khải, vốn đã ngự trị tối cao trên đảo, dần dần rời xa: nó chạy trốn, nó ẩn mình; hoặc nó được thay thế bởi một vài sự bay lượn giáo điều vẩn vơ nào đó. Có lẽ nó đã ở lại đó, trong quá khứ không thể vãn hồi, bên cạnh con chó già, con mèo cái và những con dê hiền lành.

Robinson Crusoe là một cuốn sách phi thường làm sao và nó càng trở nên phong phú hơn mỗi khi ta đọc lại. Defoe không mô tả các đồ vật một cách tỉ mỉ; ông không bao giờ có nét bút của một họa sĩ “Flemish”; tuy nhiên, khi ông nói về những cái cuốc, những cái xẻng, những cái ghế, những hạt lúa mạch, những cái nồi, ta ngỡ như lần đầu được thấy một cái cuốc, một cái nồi. Ông thích những hình ảnh lớn và những cử chỉ lớn, nhất quán và mang tính biểu tượng một cách vô thức: Robinson vừa mới đắm tàu, phát súng trường đầu tiên trên đảo, dấu chân trần trên bãi biển. Ông yêu trên hết là biển cả, những con sóng khổng lồ của cơn bão, những con sóng nối tiếp nhau, những dòng chảy, những vùng nước lặng, sự tĩnh lặng, những con sóng vỗ bờ. Có lẽ đó chính là hình ảnh trung tâm của Robinson Crusoe, bởi vì biển cả hé lộ khuôn mặt đen tối của Thượng đế, khuôn mặt hòa lẫn với khuôn mặt của Kẻ Thù.

(hết chương 1)

CATEGORIES
Share This

COMMENTS

Wordpress (0)